A Comparative Study of The Western Pure Land Practice in Various Buddhist Sects in Vietnam (2026)

A Comparative Study of The Western Pure Land Practice in Various Buddhist Sects in Vietnam (2026)

thích nguyện hạnh
Tiến sĩ
university of delhi

Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Chư Tôn Hoà thượng, Chư Tôn Đức và Ban Điều Hành Quỹ Hạt Giống Bồ-đề (BSF),

Kính thưa quý Phật tử phát tâm hộ trì Quỹ Hạt Giống Bồ-đề (BSF),

 

Con tên là Lưu Bá Hoà, pháp danh Thích Nguyện Hạnh, xin thành kính tri ân Quý Quỹ đã phát tâm kiến lập và duy trì học bổng “BSF-Hạt Giống Bồ-đề” – một nhân duyên thù thắng hỗ trợ Tăng – Ni tu học, giúp nuôi dưỡng trí tuệ và lý tưởng phụng sự nơi những người con Phật trên con đường học tập và hoằng pháp lợi sanh.

Hiện nay, con đang theo học chương trình Tiến sĩ Phật học (PhD in Buddhist Studies) tại Đại học Delhi, New Delhi, Ấn Độ – mảnh đất thiêng liêng gắn liền với sự hình thành và phát triển của Phật giáo. Luận án Tiến sĩ của con với tên đề tài “A Comparative Study of The Western Pure Land Practice in Various Buddhist Sects in Vietnam” nghiên cứu về pháp môn Tịnh Độ Phương Tây (The Western Pure Land) qua một số truyền thống Phật giáo ở Việt Nam. Trong đó, nghiên cứu những giáo lý trong kinh Tạng Nikaya làm nền tảng như: Chánh niệm về Đức Phật (Pāli: Buddhanusati), cỏi Phật/Phật quốc (Pāli: Buddhakkhetta), niết-bàn/cõi An Lạc (Pāli: Nirvana), … Nghiên cứu phân biệt về Tây Phương Tịnh Độ (English: The Western Pure Land; Pāli: Sukhāvatī) so với một một số thế giới Tịnh Độ khác (như Đông Phương Tịnh Độ của Đức Phật Dược Sư (Pāli: Vaidūryanirbhāsa), cõi Tịnh Độ của Đức Phật Tỳ-Lô-Giá-Na (Pāli: Vairocana), hay cõi Tịnh Độ của Đức Phật Akshobhya (Pāli: Abhirati), ...) trong vũ trụ quan Phật giáo. Đồng thời, luận án còn so sánh một số điểm khác biệt về cõi Tịnh Độ của Đại Thừa (Pāli: Mahāyāna)  Kim Cang Thừa (Pāli: Vajrayāna). Từ những nghiên cứu nền tảng từ kinh Nikaya và so sánh trong pháp môn Tịnh Độ trong Đại thừa và Kim Cang thừa, luận án sẽ cũng cố vững chắc các lý thuyết về Tịnh Độ trong kinh Nikya, Đại Thừa và Kim Cang Thừa; lý giải vì sao Tịnh Độ Phương Tây của Đức Phật A-Di-Đà là phổ biến ở Việt Nam; và đóng góp trong việc hoằng hoá Pháp môn Tịnh Độ nói riêng và Phật Pháp nói chung.

Đối với con, việc nghiên cứu Tịnh Độ không chỉ dừng lại ở phương diện học thuật, mà còn là sự tìm hiểu sâu sắc về con đường thực hành mang đến lợi ích và an lạc cho bản thân và tính phổ cập, gần gũi và phù hợp với đông đảo quần chúng Phật tử ở Việt Nam và thế giới. Xuất phát từ tâm nguyện được góp phần phục vụ cộng đồng những người Phật tử và những người nghiên cứu về Phật học và cũng như những người hữu duyên, con mong muốn thông qua việc học tập và nghiên cứu nghiêm túc, có thể hệ thống hóa, làm sáng tỏ và truyền đạt những giá trị cốt lõi của pháp môn Tịnh Độ một cách đúng đắn, dễ hiểu và phù hợp với bối cảnh hiện đại. Qua đó, góp phần hỗ trợ đời sống tâm linh, giúp mọi người tìm được một nơi nương tựa vững chắc, sự an ổn trong nội tâm và định hướng tích cực trong cuộc sống.

Tuy nhiên, hành trình học tập nơi đất Ấn Độ con phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn và trở ngại từ điều kiện môi trường, đó là khác biệt về văn hoá, ẩm thực (đồ ăn Ấn Độ khó ăn), thời tiết và khí hậu khắc nghiệt (rất nóng có thể lên đến 50 độ C tại Delhi và lạnh nhiều so với Việt Nam), khác biệt về tôn giáo (Phần lớn người Ấn Độ theo đạo Hindu, đạo Hồi và đạo Jain; còn Phật giáo rất ít), và chi phí sinh hoạt tại Thủ Đô New Delhi rất đắc đỏ (giá thuê phòng và thức ăn đều cao). Bên cạnh đó, những khó khăn của bản thân, con bước vào chùa khi ba mẹ đã mất, bản thân con xuất thân từ một gia đình nông dân ở một huyện nông thôn ở Kiên Giang (nay là xã Tây Yên, An Giang, Việt Nam), và gia đình còn nhiều khó khăn về kinh tế. Các chị em thì ai cũng có gia đình riêng nên ít được hỗ trợ từ gia đình. Con mới xuất gia chưa lâu, xin được đi học ở Ấn Độ là một hạnh phúc lớn lao đối với con, nên con không dám đòi hỏi gì thêm. Nhờ sự gia hộ của Tam Bảo cùng với sự phấn đấu học hỏi liên tục của bản thân, con đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách để hoàn thành chương trình Thạc sĩ Phật học tại Trường Đại học Nalanda (Bihar, Ấn Độ) vào tháng 05 năm 2025 và hiện tại con đang học năm thứ nhất của chương trình Tiến sĩ tại Đại học Delhi (New Delhi, Ấn Độ).

Nhân duyên được biết đến học bổng “BSF-Quỹ Hạt Giống Bồ-đề” đã mở ra cho con một niềm tin, một niềm hy vọng lớn lao. Con tin rằng sự trợ duyên từ Quý Quỹ không chỉ giúp con tiếp tục phấn đấu trên con đường tu tập và học thuật ở đất nước Ấn Độ, mà còn là một nguồn động lực tinh thần để con kiên định với lý tưởng phụng sự Tam Bảo lâu dài. Với tất cả tâm thành kính, con kính viết lời ngỏ này để bày tỏ mong muốn được nhận sự hỗ trợ từ Quỹ “BSF-Hạt Giống Bồ-đề.”

Nếu đủ duyên được nhận học bổng, con nguyện sẽ tinh tấn học tập, giữ gìn phạm hạnh, trau dồi tri thức và chuyển hóa tự thân. Đồng thời, con sẽ nỗ lực chia sẻ, ứng dụng những hiểu biết đã học vào việc hoằng dương Phật pháp, không chỉ là Tịnh Độ mà còn tất cả những gì con học hỏi được trên con đường tu học để chia sẻ nhằm mang lại lợi ích cho những chúng sinh hữu duyên, góp phần lan tỏa những giá trị từ bi và trí tuệ của Phật giáo.

Con xin thành tâm tri ân Quý Quỹ đã lắng nghe lời ngỏ của con. Con xin kính chúc Quý Chư Tôn Đức, Quý Ban điều hành Quỹ “BSF-Hạt Giống Bồ-đề” pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu và Quý Quỹ luôn hưng thịnh trong công hạnh gieo trồng những hạt giống Bồ-đề, mang lại lợi lạc lâu dài cho Tăng Ni Việt Nam và cộng đồng trong và ngoài nước.

Nam-mô Hoan Hỷ Tạng Bồ-tát

 

Kính thư,

Thích Nguyện Hạnh

(Lưu Bá Hoà)