Lucknow những ngày đông lạnh giá nơi đất khách
Thich Nữ Vạn Hiếu
Đại học Lucknow, Ấn Độ

NCS TS. Thích Nữ Vạn Hiếu, Đại học Lucknow, Ấn Độ.
Hôm nay, giữa cái nắng trên 41°C của thủ phủ Lucknow, tôi ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, đôi tay run run gõ từng dòng tâm sự này. Lòng tôi nặng trĩu, không phải để than vãn cuộc đời, mà để gửi gắm những nỗi niềm day dứt, những giọt nước mắt thầm lặng mà tôi đã cảm nhận và quán chiếu suốt vài tháng qua.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tôi chính thức đặt chân đến Lucknow – thủ phủ bang Uttar Pradesh, Ấn Độ. Thành phố này mang vẻ đẹp lịch lãm của thành phố các Nawab, với kiến trúc Nawabi nguy nga tráng lệ và phong cách Lucknowi Tehzeeb tinh tế, đầy phép tắc. Thành phố còn được UNESCO vinh danh là Thành phố Sáng tạo về Ẩm thực, nơi lưu giữ hương vị Awadhi đậm đà qua bao thế hệ. Thành phố còn có Ambedkar Memorial Park rộng lớn, với những stupa uy nghi, tượng Phật bằng đá cẩm thạch lặng lẽ đứng giữa không gian xanh mát. Những bức tượng ấy đẹp đẽ và hoành tráng, như một lời nhắc nhở về con đường bình đẳng mà B. R. Ambedkar, một luật gia, nhà kinh tế học, nhà cải cách xã hội, kiến trúc sư chính của Hiến pháp Ấn Độ, ông đã chọn khi quy y Tam Bảo. Thế nhưng, giữa những bức tượng tĩnh lặng và lạnh lẽo ấy, Phật giáo sống động với Tăng Ni thực thụ, với tiếng kinh chiều vang vọng, với hơi thở từ bi và nếp sống tu hành hằng ngày, lại gần như vắng bóng hoàn toàn.

Người dân nơi đây hầu như không biết đến “tu sĩ Phật giáo”, cũng ít ai từng gặp Tăng Ni Việt Nam. Giữa dòng chảy rực rỡ của Ấn Độ giáo và Hồi giáo, mảnh đất này dường như thiếu vắng một linh hồn Phật giáo chân thật. Không có chùa chiền ấm áp, không có tiếng chuông mõ ngân nga, không có không khí của một tăng đoàn hòa hợp. Nỗi trống vắng ấy lạnh lẽo hơn cả cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông ở Lucknow. Tôi và các huynh đệ như những hạt giống nhỏ bé lạc lõng giữa sa mạc mênh mông, không có đất mẹ, không có ánh nắng từ bi chiếu rọi.
Chuyến bay dài gần 24 tiếng từ Thành phố Hồ Chí Minh qua Kolkata đến Lucknow đã đưa chúng tôi đến đây đúng vào mùa đông giá rét. Khi bước xuống sân bay, cái lạnh như dao cắt ùa tới, thấm sâu vào từng thớ thịt. Có những đêm nhiệt độ tụt xuống chỉ còn 8°C. Cái lạnh ấy không chỉ buốt ngoài da mà còn buốt tận tim gan những hành giả tha hương cầu đạo nơi xứ người. May mắn thay, quý Thầy Cô đi trước một năm đã dang rộng vòng tay cưu mang. Nhờ sự che chở ấm áp của quý Thầy Cô, chúng tôi mới có chỗ trú chân qua đêm. Nếu không có quý Thầy Cô sống tốt và xây dựng được lòng tin với chủ nhà, những tu sĩ Phật giáo ngoại quốc như chúng tôi chắc chắn đã không được ở lại, vì quy định của pháp luật nơi đây không cho phép.
Từ sáng hôm sau, một cuộc chạy đua khốc liệt với thời gian bắt đầu. Trong vòng chưa đầy 24 giờ, chúng tôi phải hoàn tất toàn bộ giấy tờ tạm trú, tạm vắng, hợp đồng thuê nhà… Đặc biệt, Thầy Bảo Tâm và sư cô An Châu, những vị vô cùng tỉ mỉ và yêu thương chúng tôi vô bờ. Họ cũng đã quên ăn, bỏ ngủ và đã đồng hành cùng chúng tôi suốt một quãng thời gian dài. Quý Thầy lo phần hành chính online và giấy phép cảnh sát. Ban ngày, sư cô cùng chúng tôi đi từ sáng sớm đến tối mịt lo dẫn từng người lên trường lo thủ tục nhập học, visa và vô số giấy tờ rườm rà. Vì từ trường về nơi chúng tôi ở cách đến 10 km, nếu thuê gần trường thì giá nhà quá cao, chúng tôi không thể chi trả, nên đó là lý do vì sao chúng tôi phải đi khoảng cách từ nhà đến trường khá xa. Cũng may mắn hơn một tí, chúng tôi có thể mua thẻ và di chuyển bằng Metro tới trường. Những ngày này ai nấy đều mệt mỏi rã rời, chân run, mắt quầng thâm, nhưng không ai dám than vãn. Chúng tôi chỉ lặng lẽ cố gắng, vì biết rằng trên con đường tu học, khổ chính là chân lý đầu tiên mà Đức Phật đã dạy.
Những đêm dưới cái lạnh buốt giá, khi mền chăn vẫn chưa đủ ấm, sư cô lặng lẽ mang chiếc máy sưởi duy nhất của mình cho chúng tôi dùng, còn sư cô chịu rét một mình. Những cử chỉ từ bi âm thầm ấy khiến nước mắt tôi lặng lẽ rơi. Từ bi không phải là lời nói suông, mà là sự hy sinh thầm lặng, ngay cả khi chính mình đang lạnh cóng. Nhưng những đêm ấy mới là khoảng thời gian khắc nghiệt và đau đớn nhất. Dù đã có máy sưởi của sư cô cho, cái lạnh vẫn thấm qua từng lớp chăn mỏng manh. Tôi nằm co ro trên tấm thảm cùng vài sư cô mới qua, toàn thân run rẩy không ngừng, răng va vào nhau lập cập, chân tay tê cóng đến mất cảm giác. Càng cố ngủ, cái lạnh càng thấm sâu hơn. Những đêm nằm lạnh run mà không tài nào chợp mắt, tôi vừa đau đớn vừa tuyệt vọng. Lòng tôi trống rỗng, cô đơn đến thắt ruột. Tôi nằm đó, nhìn lên trần nhà tối om, nước mắt lặng lẽ rơi xuống gối. Trong đầu chỉ vang vọng một câu hỏi day dứt: “Phật pháp ở đây đâu rồi? Hơi ấm từ bi ở đâu giữa mảnh đất rộng lớn này?” Những đêm dài như thế khiến tôi thấm thía hơn bao giờ hết lời Đức Phật dạy về “khổ đế”, khổ không chỉ là thân xác lạnh lẽo, mà còn là nỗi cô đơn lạc lõng, là sự trống vắng trong tâm hồn giữa chốn xa lạ.
Khi giấy tờ tạm ổn, chúng tôi mới có dịp ngồi lại bên nhau. Trong căn phòng lạnh lẽo, chúng tôi nhấp từng ngụm trà nóng, hơi ấm lan tỏa từ tách trà nhỏ bé. Lúc ấy, sư cô An Châu nghẹn ngào chia sẻ: “Năm nay thấy huynh đệ đông hơn, sư cô mừng đến rơi nước mắt… Nơi này không có thánh tích Phật giáo. Việc được nhìn thấy những người Việt Nam xuất gia là điều vô cùng hy hữu.” Giọng sư cô run run, nước mắt lăn dài trên gò má. Cả căn phòng im lặng, chỉ còn tiếng trà róc rách và tiếng thở nặng của từng huynh đệ. Lúc đó, nỗi trống vắng trong tôi dâng trào mãnh liệt. Tôi nhận ra rằng giữa mảnh đất rộng lớn này, Phật pháp dường như chỉ còn là những bức tượng đá lạnh lùng, chứ chưa phải là hơi ấm từ bi sống động.
Những tháng đầu thật sự là khoảng thời gian gian nan tột cùng. Học bổng chưa chuyển về; tiền bảo hiểm, tiền đặt cọc, tiền thuê nhà, tiền mua sắm đồ dùng thiết yếu… tất cả đều phải nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của quý Thầy Cô đang học ở các trường khác. Không có những bàn tay ấm áp ấy dang rộng, chắc hẳn chúng tôi đã không trụ nổi giữa cái lạnh cắt da và nỗi cô đơn thấu xương. Có những đêm nằm lạnh run không ngủ được, lòng tôi quặn thắt đau đớn khôn nguôi.Tôinằm và suy nghĩ, chúng tôi đã được quý Thầy Cô che chở, giúp đỡ từng li từng tí như vậy mà vẫn cảm thấy gian nan đến thế. Vậy thì những Thầy Cô mở đường đi trước, những người không có ai dang tay nâng đỡ, đã phải chịu đựng những nỗi khổ nào? Nghĩ đến đó, nước mắt tôi lại rơi nhiều hơn. Giữa xứ người trống vắng, tôi càng thấm thía rằng cuộc đời là vô thường, mọi sự đều do duyên khởi. Khó khăn hôm nay chính là nhân duyên để ta rèn luyện lòng từ bi và sức mạnh nhẫn nhục.
Sau khi giấy tờ tạm ổn, thử thách thực sự mới ập đến: chúng tôi chia nhau đi tìm nhà ở. Đợt này huynh đệ chúng tôi có đến 10 vị, việc sắp xếp chỗ ở cho từng người trở nên vô cùng cấp bách. Gần một tháng trời, chúng tôi lang thang khắp các ngõ ngách của thành phố rộng lớn. Người dân ở đây nhìn thấy chúng tôi là người ngoại quốc thường từ chối ngay lập tức. Nhiều người vì “đầu tròn áo vuông” và ngoại hình mà nhầm chúng tôi là người Trung Quốc, hoặc tưởng chúng tôi là người theo Ấn giáo vì lúc nào cũng cạo trọc đầu. Theo phong tục của một số người Ấn, khi cha hoặc mẹ mất, họ cạo trọc đầu và chừa lại một chỏm tóc nhỏ phía sau. Có người thấy chúng tôi thường xuyên cạo đầu lại hỏi vài câu khá ngây ngô: “Sao gia đình bạn nhiều người mất vậy?” Có những chủ nhà lịch sự hơn. Họ hỏi: “Bạn đến từ đâu?” Khi tôi trả lời: “Tôi đến từ Việt Nam”, một số vị tỏ ra rất hoan hỷ và cởi mở. Lúc ấy, tôi lại thấy lòng mình dâng lên niềm tự hào sâu sắc vì là người Việt Nam. Dù vậy, vẫn có nhiều trường hợp chúng tôi bị từ chối thẳng thừng chỉ vì bị nhầm lẫn. Thậm chí, sau khi đã thuê được nhà, trẻ con trong xóm vẫn hay thì thầm với nhau rằng “người Trung Quốc”. Những lúc như vậy, tôi nghĩ sau này nếu thuê được nhà ổn định, tôi sẽ mua một lá cờ Việt Nam và một lá cờ Ấn Độ, treo song song trên nóc nhà. Lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa gió, Lucknow không chỉ là cách khẳng định nguồn cội, mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng, chân thành về bản sắc của chúng tôi, những tu sĩ Phật giáo đến từ Việt Nam.
Có những ngày chân mỏi nhừ, lòng đầy lo âu và tuyệt vọng, chúng tôi chỉ biết ngồi lại với nhau, thành tâm niệm “Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát”. Những câu niệm ấy vang lên trong đêm đông lạnh giá như một nguồn sức mạnh dịu dàng, giúp tôi thêm vững lòng vượt qua. Cuối cùng, chúng tôi phải nhờ một vị bác sĩ và vài chủ nhà quen biết giới thiệu rằng chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo đến từ Việt Nam, sống có đạo đức, họ mới chịu mở lòng cho thuê. Sau gần một tháng vất vả tột cùng, từng huynh đệ cũng lần lượt có được mái nhà riêng. Mỗi khi ai đó ký được hợp đồng, cả nhóm lại kéo đến chúc mừng nhau trong niềm vui xen lẫn nước mắt. Lúc ấy, tôi nhận ra rằng ranh giới ích kỷ dường như đã tan biến. Chúng tôi thực sự là một khối, cùng san sẻ, cùng vượt qua mọi khó khăn thử thách.
Ở đây, Tăng Ni Việt Nam còn rất ít, lại hầu như không có phái đoàn nào ghé thăm. Vì vậy, mỗi khi có đoàn sang Bồ Đề Đạo Tràng, huynh đệ chúng tôi thường tế nhị nhờ gửi giúp vài thùng mì gói hoặc một ít chai nước tương. Chúng tôi không dám gửi nhiều, vì nếu tàu chuyển bánh gấp thì với sức khỏe hạn chế, chúng tôi cũng không đủ sức chạy theo để xoay xở. Ai từng đi tàu ở Ấn Độ đều hiểu rằng việc đi tàu nơi đây chưa bao giờ dễ dàng như ở Việt Nam. Bản thân tôi cũng đã vài lần vừa xách hành lý vừa chạy theo tàu, vô cùng vất vả. Dĩ nhiên, cũng có cách nhẹ nhàng hơn là nhờ các chú phụ việc ở nhà ga hỗ trợ mang đồ, nhưng như vậy lại phải trả thêm phí; mà đã là người ngoại quốc thì khoản phí ấy thường bị tính cao hơn. Thế rồi, mỗi lần nghe tin đoàn đã đem hàng qua đến Bồ Đề, huynh đệ chúng tôi mừng lắm. Chúng tôi lại mua vé tàu, nằm suốt 10–12 tiếng trên chặng đường hơn 500 cây số để lên nhận hàng, rồi mang về chia đều cho quý Thầy, quý Cô ở dưới này. Dẫu thân thể có mệt đến rã rời, nhưng mỗi khi nhìn những gói mì được trao tận tay nhau trong đêm đông, lòng tôi lại dâng lên một niềm ấm áp rất lạ. Có lẽ, đó chính là một hình thức “vô úy thí” chân thật và cảm động nhất trong hoàn cảnh này.
Nhiều khi tôi tự cảm thấy hổ thẹn trước tấm lòng bao la và sự hy sinh thầm lặng của quý Thầy Cô. Tôi không biết sau này mình có đủ lòng từ bi để giúp đỡ các huynh đệ thế hệ sau hay không. Nhưng từ đáy lòng, tôi thành tâm phát nguyện: xin cho con có được một tấm lòng từ bi rộng lớn như Thầy Bảo Tâm, như sư cô An Châu, và tất cả quý Thầy Cô đã âm thầm gieo trồng hạt giống thiện lành. Họ chưa bao giờ có một lời phàn nàn, chỉ lặng lẽ cho đi, tiếp tục truyền lửa chí nguyện từ đời này sang đời khác.
Tôi xin gửi gắm lòng biết ơn sâu sắc nhất đến quý Thầy Cô, những người đã mở đường, đã che chở chúng tôi giữa xứ người lạnh lẽo và trống vắng này. Tôi nguyện nỗ lực học tập, tu hành nghiêm túc, để không phụ lòng tin và công sức vô giá của quý Thầy Cô. Từ đáy lòng mình, tôi xin nguyện: một ngày nào đó, khi có đủ sức, tôi sẽ tiếp tục nối dài hạnh nguyện ấy, dang rộng vòng tay từ bi giúp đỡ những huynh đệ Việt Nam đến sau, như dòng suối mát từ bi chảy mãi không ngừng trên mảnh đất Phật giáo xa xôi và cô quạnh này.
Nguyện đem công đức tu học này hồi hướng cho chúng sinh, cầu mong Phật pháp trường tồn, tăng đoàn hòa hợp, và tất cả chúng sinh đều được an lạc, thoát khỏi biển khổ.






